fbpx
Art

Làm chủ màu sắc – Sức mạnh tâm lý và tiến hoá của màu vàng.

Google+ Pinterest LinkedIn Tumblr +

 

“Màu vàng, màu của sự điên dại, của bệnh tật, của nỗi sợ, (một phần của ánh nắng và của niềm vui).”

Đó là những lời được họa sĩ Frida Kahlo viết lại trong cuốn nhật ký của bà. Màu vàng là một trong những màu sắc gắn bó với lịch sử con người lâu đời nhất, những tầng lớp ý nghĩa tượng trưng được gắn liền với sắc vàng tạo ra giá trị trường tồn của nó trong nghệ thuật và thiết kế. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau điểm lại quá trình tiến hóa và ảnh hưởng nghệ thuật của màu vàng từ thời kỳ tiền sử đến thời kỳ nghệ thuật đương đại.

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

SỨC MẠNH TÂM LÝ CỦA MÀU VÀNG

Một trong những hình thái lâu đời nhất của màu vàng là Mặt Trời. Chúng gần như không thể tách rời với nhau, cũng vì vậy mà những đặc tình thường hay được gắn với Mặt Trời như sự ấm áp, năng lượng dồi dào hay sự rạng rỡ đều phản ánh lại cách con người nhìn nhận màu vàng. Nhiều nền văn hóa tôn thờ Mặt Trời như một thế lực với uy lực thần thánh. Một cách tự nhiên, màu vàng từ đó cũng thừa hưởng những ý niệm về quyền lực, trí tuệ, sự bất tử và địa vị.

Nhiều ý nghĩa của sắc vàng có nguồn gốc từ tự nhiên. Cũng như việc ánh nắng xua đi màn đêm u tối, màu vàng được con người gắn với niềm vui. Sắc vàng trên những loài hoa nở xuân như hoa thủy tiên, bồ công anh, hoa mai khiến con người linh cảm màu vàng là màu của sự sinh sôi nảy nở và sự sống tái sinh. Nét vàng lá thu lại khiến con người cảm nhận về sự thay đổi, sự cân bằng và năm tháng tuổi tác. Màu vàng rực rỡ trên những trái chanh vàng, trái chuối hay những bắp ngô lại tượng trưng cho dinh dưỡng dồi dào. Mặt khác, nhiều loài côn trùng, động vật và thực vật trong thiên nhiên khoác lên thân màu vàng để xua đuổi kẻ thù.

Màu vàng có ý nghĩa tượng trưng mạnh mẽ ở Trung Quốc, nơi mà nó được coi là màu của vinh quang, quyền quý, sung túc và trí tuệ. Một số văn hóa Mỹ La-tinh và Trung Đông lại gắn màu vàng với sự chết chóc, nỗi buồn và sự đau thương.

Phạm vi nhận biết rộng của sắc vàng khiến nó được sử dụng thường xuyên làm thiết bị an toàn và biển báo. Tuy nhiên do có tính phản quang mạnh, việc nhìn liên tục vào màu vàng có thể gây mỏi mắt. Năng lượng tràn đầy của màu vàng cũng có thể dẫn đến liên tưởng về tính bộc phát và lòng tự tôn. Nhờ có họ hàng với màu sắc óng ánh trên một loại kim loại quý giá, màu vàng lại gắn với tiền tài, sự giàu có và đôi khi còn với sự tham lam. Thành ngữ “yellow-bellied” trong tiếng Anh được dùng để chỉ những người hèn nhát.

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

QUÁ TRÌNH TIẾN HÓA CỦA MÀU VÀNG

Vàng thổ hoàng (Ochre)

Là một loại đất sét tự nhiên, thổ hoàng phân bố rộng rãi và có nhiều chức năng khác nhau nên được sử dụng phổ biến từ thời tiền sử. Gavin Evans, tác giả cuốn “The Story of Colour: an Exploration of the Hidden Messages of the Spectrum”, nêu rằng “ dọc sườn núi Bomvu ở Swaziland, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những mỏ khai thác thổ hoàng đỏ và vàng 40,000 tuổi, có thể đã được dùng để vẽ lên cơ thể.”

Loại chất liệu này cũng được tìm thấy ở những bức tranh trên đá tối cổ tại Pech Merle (Pháp) và hang đá Lascaux và Altamira ở Tây Ban Nha. Thổ Dân Úc cũng đã sử dụng thổ hoàng vàng khi vẽ hơn 40,000 năm nay.

Ngày nay, nghệ sĩ dùng thổ hoàng vàng với mọi loại hình nghệ thuật từ cổ truyền đến đương đại.

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

Thư hoàng (Orpiment)

Với tên gọi bắt nguồn từ tiếng Latin (auripigmentum, aurum: vàng, pigmentum: thuốc màu), Thư hoàng được hình thành trong những miệng núi lửa, mạch khoáng chất và những suối nước nóng. Nó là một loại asen sunfua có màu vàng cam đậm, thu hút sự chú ý của cả những nhà luyện kim Trung Quốc và phương Tây đang tìm cách chế tạo ra vàng. Mặc dù có độc tố cao, thư hoàng vẫn được sử dụng ở Ai Cập, Ba Tư, Châu Á và La Mã.

Vàng Ấn Độ

Màu vàng này được sử dụng rộng rãi trong những bức tranh màu nước và màu kem Ấn. Được biết đến qua những bức tranh Rajput-Mughal giữa thế kỷ 16 và 19, vàng Ấn Độ cũng được tận dụng ở cả Châu Âu giữa khoảng thế kỷ 17 và 19.

Vàng Ấn Độ được cho là bắt nguồn từ những vùng nông thôn Ấn Độ bằng cách sử dụng phân gia súc chỉ được cho uống nước và ăn lá xoài. Ngày nay, loại màu này được sản xuất với hỗn hợp niken aso, vàng arylide và hỗn hợp quinacridone cam cháy.

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

Vàng Lead-Tin

Vàng Lead-tin có hai dạng. Theo ColourLex, “dạng một, được sử dụng rỗng rãi hơn, được tạo ra bằng cách trộn ô xít chì và ô xít thiếc; loại thứ hai có thêm dấu vết của silica và ô xít thiếc nguyên chất.” Vàng lead-tin xuất hiện từ những năm 1300, nhưng nó được sử dụng rộng rãi nhất vào thế kỷ 15,16 và 17. Johannes Vermeer, Titian và Anthony van Dych đều sử dụng chất liệu này trong những bức họa của họ.

Vàng chrome

Khi nhà hóa học người Pháp Louis Vauquelin phát hiện ra Crom vào năm 1797, người ta đã sản xuất chì cromat để làm thuốc màu. Mặc dù được sử dụng rộng rãi vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ 19, độc tố và tính oxi hóa gây tối màu khi gặp nắng của crom khiến cho vàng chrome phần lớn bị thay thế bởi vàng cadmium sau này.

Joseph Mallord William Turner dùng vàng chrome để tô sáng trong những bức tranh theo chủ nghĩa lãng mạn của ông. Trong ngành hàng không, chiếc máy bay Piper J-3 Cub được nhiều người yêu mến nhận màu vàng chrome là màu tiêu chuẩn của thương hiệu. Chính vì vậy, dân hàng không thường gọi những màu tương tự vàng chrome với cái tên vàng Cub (Cub yellow).

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

Vàng catmi (Cadmium)

Catmi chủ yếu được dùng để sản xuất pin niken-catmi. Tuy nhiên, nó còn được dùng để sản xuất thuốc màu catmi với những màu sắc sặc sỡ như đỏ, vàng và cam. Được phát hiện vào năm 1817, tính giữ màu và khả năng pha trộn tốt giúp cho vàng catmi vẫn được sử dụng cho đến tận bây giờ kể từ khi nó được sản xuất đại trà vào năm 1840. Hai ví dụ tiêu biểu cho ứng dụng của vàng catmi trong hội họa là bức Wheatstacks (Sunset Snow Effects) và Still Life with Apples and Grapes của Claude Monet.

Vàng Arylide

Vàng arylide (hay còn gọi là vàng Hansa và vàng Monoazo) là một nhóm những hợp chất hữu cơ được sử dụng làm chất màu công nghiệp trong sản xuất đồ nhựa, sơn, mực, sơn dầu, acrylic và màu nước. Được tìm ra bởi Hermann Wagner vào năm 1909 ở Đức, vàng arylide được đưa vào sử dụng thương mại từ khoảng năm 1925 và thay thế hoàn toàn cho vàng catmi kể từ năm 1950. Alexander Calder và Jackson Pollock đều sử dụng vàng arylide trong những tác phẩm của họ.

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

Vàng trong nghệ thuật trực quan

Sự nổi bật của màu vàng khiến cho nó được sử dụng rất nhiều trong nghệ thuật trực quan. Người Ai Cập cổ dùng thổ hoàng để tô màu da phụ nữ và miêu tả những vị thánh thần. Màu thổ hoàng cũng là một thành phần không thể thiếu trong bảng màu của người La Mã, được sử dụng chủ yếu để vẽ nền và đổ màu da.

Dưới thời Trung Cổ, Judas Iscariot được tượng trưng bởi màu vàng, cho đến giờ lí do cho điều này vẫn chưa được tìm thấy. Dẫu vậy, hình ảnh Judas nhanh chóng khiến người ta gắn màu vàng với sự ghen tuông, khó chịu, căng thẳng và phản bội. Bất chấp điều này, màu vàng vẫn tiếp tục để tô điểm sự sinh sôi nảy nở và sự sống. Là một trong những họa sĩ đầu tiên sử dụng màu vẽ thương mại, Vincent Van Gough đưa màu vàng với một sự trìu mến vào rất nhiều những bức họa của ông như A Field Of Yellow Flowers, Dunes và Sunflowers.

Vào thời đỉnh cao của mình, Gustav Klimt đã vẽ bức The Kiss, được kết cấu bao quanh bởi những màu vàng sinh động và lá vàng. Piet Mondrian cũng đã sử dụng màu vàng trong những đường nét mạnh mẽ của ông. Mark Rothko và Willem de Kooning dùng vàng để tạo ra cảm giác nhẹ nhàng và chuyển động mềm mại, Andy Warhol dùng những màu vàng rực rỡ để đem lại những sắc màu vuông vắn, siêu thực trong những bức tranh đậm nét văn hóa đại chúng và những vật dụng thường ngày.

Thế kỷ 21 đến với những chất liệu nghệ thuật và công nghệ mới. “The Weather Project” của Olafur Eliasson bao trùm người xem trong một không gian với ánh sáng hút hồn từ một mặt trời nhân tạo. Triển lãm infinity rooms của Yayoi Kusama với góc nhìn tưởng như những quả bí ngô vàng vô tận điểm xuyến bởi những chấm đen polka thách thức thiên nhiên và chơi đùa với thị giác con người. Kiến trúc Skyspaces của James Turrell vận dụng sử kiểm soát về ánh sáng để tách ra ánh sáng vàng buổi sớm trong màn đêm.

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

MÀU VÀNG TRONG NHIẾP ẢNH

Mọi ý niệm về sự gian dối, phản bội, niềm vui, cảnh báo và thiên nhiên của màu vàng đều hiện hữu trong nhiếp ảnh như mọi ngành nghệ thuật khác. Nhiếp ảnh gia đường phố Saul Leiter đưa vào những khung cảnh của ông những mảng màu vàng để tạo ra một nhịp điệu gợi cảm trong những bức ảnh. Bức ảnh chụp một cậu bé tóc vàng đang đầy thách thức hút thuốc vào ống kính của Mark Cohen càng được nhấn mạnh rõ hơn bởi chiếc áo vàng tươi của cậu. Gregory Crewdson kết hợp ánh sáng vàng từ đèn bàn và khung cửa sổ đối nghịch với khung cảnh gia đình thân thuộc để tạo ra một cảm giác bồn chồn mạnh mẽ. Bức chụp một con báo đang rình rập quanh một đồng cỏ đưa màu vàng trở về với thiên nhiên nguyên thủy. Kyle Jeffers dùng sắc vàng để tô điểm cho những bức ảnh kiến trúc còn những bức ảnh vàng của Annette Horn lại khơi lên năng lượng mạnh mẽ của sắc vàng.

Màu vàng cũng có thể là một công cụ sáng tạo trong nhiếp ảnh. Từ “golden hours” (giờ nắng vàng) được dùng để chỉ thời khắc ngay sau lúc bình minh hoặc trước lúc hoàng hôn khi mà ánh nắng có một sắc vàng đặc trưng. Trong khung thời gian này, ánh sáng mặt trời mềm mại và ấm áp nhất, tạo cơ hội cho những bức chân dung uyển chuyển hoặc những bức phong cảnh có chiều sâu. Trong nhiếp ảnh trắng đen, filter vàng hay được dùng để giảm tối bầu trời và tăng tương phản trên cây cối. Trong ảnh chân dung, filter này lại được dùng để làm ấm tone da.

Mastering Color Series - The Psychology and Evolution of the Color YELLOW and its use in Photography

KẾT LUẬN

Sắc vàng rực rỡ đã nằm trong trái tim nhiều thế hệ nghệ sĩ hàng nghìn năm nay. Là màu tươi nhất trên phổ màu, sắc vàng phản ảnh chuyển động đa dạng của sự sống. Không chỉ gắn liền với niềm vui, sự tái sinh, đổi mới và năng lượng dồi dào, màu vàng thông qua nghệ thuật còn miêu tả sự ghen tuông, phản bội và lòng tham. Sự rực rỡ, tính đa dụng và gợi cảm gợi hình của màu vàng được hình thành thông qua nhiều thế hệ nghệ thuật trực quan và qua thiên nhiên xung quanh chúng ta.

Credits:
Bài viết gốc bởi Megan Kennedy tại: digital-photography-school.com
Dịch và chú giải bởi Học viện nhiếp ảnh Quảng cáo Chimkudo Academy. Yêu cầu không trích dẫn khi chưa được sự đồng ý.

Share.

About Author